
Gút là một bệnh khớp vi tinh thể, nguyên nhân do acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây viêm khớp. Tuy nhiên acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tôphi. Ở các nước phát triển, bệnh chiếm tỷ lệ 1-2% dân số. Ở Việt Nam bệnh gút đã trở nên rất phổ biến, ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ 4 trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.
Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút
Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Loại biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp. Đó là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tôphi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Các biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận như sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim... Loại biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Bệnh thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, và có nguy cơ bị dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một trong những chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp. Từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng lao, loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Các biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng, việc điều trị gút cũng có thể gây nên tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.
Các khó khăn khi điều trị bệnh gút
Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với nhiều thuốc chữa gút như colchicin và allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hóa, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc đông y và tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.
Các nguyên tắc điều trị bệnh gút
Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và thuốc men. Các thuốc thường dùng điều trị bệnh gút là colchincin, allopurinol (zyloric), benemid, các thuốc chống viêm không steroid. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hóa lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp...
Gút - Bệnh của “đấng mày râu”?
Bệnh gút trong dân gian còn gọi là bệnh thống phong. Trước đây người ta xem bệnh gút là bệnh của nhà giàu, bởi lẽ nó liên quan đến các loại thức ăn ngon. Bệnh gút là bệnh phổ biến ở các nước phát triển và ở Việt Nam bệnh cũng đang có xu hướng gia tăng. Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã tổng kết thấy tỷ lệ mắc bệnh gút ở các “đấng mày râu” thường cao hơn rất nhiều tỷ lệ gặp ở các quý bà. Vậy nguyên nhân của bệnh gút là gì, bệnh gút có di truyền không và phương pháp đề phòng như thế nào cho có hiệu quả?
Nguyên nhân của bệnh gút là gì?
Thực chất bệnh gút là bệnh về khớp. Đây là bệnh viêm khớp mạn tính do sự rối loạn chuyển hóa purin trong máu của một số cơ thể nào đó. Acid uric là một sản phẩm được tạo ra do quá trình chuyển hóa protein của cơ thể. Acid uric dạng muối urat lắng đọng ngày một nhiều thì triệu chứng của bệnh gút càng điển hình. Dạng muối urat thường lắng đọng tại các mô mềm bao quanh các khớp và các màng hoạt dịch của bao khớp, từ đây chúng sẽ tác động dần dần và làm viêm các tổ chức đó. Tuy vậy, nhiều tác giả cho biết rằng một người nào đó bị tăng acid uric máu thì chưa chắc đã là mắc bệnh gút bởi vì ngoài bệnh gút còn có một số bệnh cũng có thể làm tăng acid uric máu, ngược lại có một số người mới ở giai đoạn đầu xuất hiện các triệu chứng lâm sàng biểu hiện của bệnh gút nhưng thời điểm lúc đó chưa thấy tăng acid uric máu, vì vậy các tác giả khuyến cáo rằng mỗi khi có tăng acid uric máu mà chưa có triệu chứng lâm sàng của bệnh gút hoặc khi có triệu chứng lâm sàng của bệnh gút nhưng chưa thấy tăng acid uric máu thì nên xét nghiệm máu nhiều lần và kèm theo làm các xét nghiệm khác có liên quan theo chỉ định của bác sĩ để có cơ sở chẩn đoán đúng bệnh.
Những đối tượng nào có thể mắc bệnh gút?
Người ta nói bệnh gút là bệnh của “quý ông” không phải là không có lý của nó. Theo thống kê thì thấy có trên 95% người mắc bệnh gút là nam giới và ở độ tuổi hay gặp là tuổi trung niên, khỏe mạnh, mập mạp (từ 30-40 tuổi), trong số đó thấy có một tỷ lệ nhất định bố, mẹ cũng bị bệnh gút. Ở nữ giới tỷ lệ mắc bệnh gút rất thấp khoảng 5% và thường gặp ở lứa tuổi đã cao (trên 60 tuổi).
Người ta cũng thấy có một số yếu tố liên quan đến bệnh gút như thừa cân (thống kê thấy tỷ lệ người mắc bệnh gút tăng ở người béo phì, bởi vì người béo phì (thừa cân) khả năng đào thải acid uric giảm trong khi đó khả năng tổng hợp acid uric máu lại tăng lên), ăn nhiều chất đạm, đặc biệt là các phủ tạng động vật hoặc có thể gặp ở những người xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa lipit máu (tăng cholesterol, triglycerit), tiểu đường, bệnh mạch vành. Người ta cũng thấy ở những người hay ăn các thức ăn chế biến sẵn, uống nhiều đồ uống có cồn hoặc dùng thường xuyên các thuốc lợi tiểu... cũng có nguy cơ mắc bệnh gút.
Khi bị bệnh gút thường có những triệu chứng gì?
Bệnh gút thường có 2 thể: cấp tính và mạn tính.
Thể cấp tính: Đau khớp dữ dội, rát bỏng là một triệu chứng đặc trưng. Triệu chứng này thường xuất hiện vào lúc nửa đêm về sáng, nhất là sau các bữa ăn có nhiều đạm, uống bia rượu. Tại các khớp đau có hiện tượng viêm rõ: sưng, nóng, đỏ. Một đặc điểm trong viêm khớp của bệnh gút là các khớp đau không đối xứng. Các khớp đau thường hay gặp trong bệnh gút là khớp cổ chân, khớp ngón chân, khớp gối và đặc biệt là khớp ngón chân cái. Khớp đau kèm theo nóng rát rất khó chịu. Trong bệnh gút, nhất là bệnh gút cấp tính, acid uric máu thường tăng cao (bình thường acid uric máu, ở nam giới từ 180-420m mol/l và nữ giới là từ 150-360m mol).
Thể mạn tính: Thường đau một số khớp xương nhưng không phải đau thường xuyên mà đau tái đi tái lại nhiều lần. Mỗi lần lên cơn đau có khi không điều trị gì cũng tự khỏi. Các khớp bị đau thường có xuất hiện các hạt cứng ở xung quanh khớp gọi là hạt tophy. Chính các hạt này càng nhiều thì khớp càng bị biến dạng và khi người khác hoặc tự bản thân mình nhìn cũng thấy khớp to ra. Chụp Xquang thấy hiện tượng cản quang rất điển hình. Bản chất của các hạt tophy là tinh thể urat. Khi xuất hiện các hạt tophy là có khả năng làm biến dạng các khớp do đó dần dần sẽ làm hạn chế vận động của khớp.
Mắc bệnh gút để lại những hậu quả gì?
Hậu quả trước mắt là có những cơn đau dữ dội, rát bỏng ở một số khớp trong các đợt cấp tính.
Hậu quả lâu dài: Nếu các đợt đau khớp cấp tính mà không được điều trị chu tất thì bệnh rất dễ tái phát và kéo dài, càng ngày hiện tượng viêm nhiều khớp sẽ tăng lên, đồng thời hiện tượng sự lắng đọng hạt tophy cũng gia tăng làm biến dạng các khớp, cứng khớp, đưa đến hậu quả xấu là hạn chế vận động, đi lại khó khăn. Nặng hơn nữa là gây tàn phế. Người ta còn thấy sự lắng đọng muối urat còn xảy ra ở thận gây sỏi thận và rất có thể làm ảnh hưởng đến chức năng của thận. Từ sỏi thận có thể gây nên sỏi niệu quản, bàng quang làm ứ đọng nước tiểu gây giãn đài, bể thận, niệu quản.
Bệnh gút có thể chữa khỏi hẳn không?
Hiện tại việc điều trị nguyên nhân gây bệnh gút còn gặp khó khăn. Nhưng có nhiều loại thuốc để điều trị triệu chứng của bệnh gút rất nhanh chóng và có hiệu quả. Điều quan trọng là phải biết chẩn đoán đúng và sớm để bệnh gút được điều trị càng sớm càng tốt, đặc biệt là giai đoạn cấp tính. Điều trị bệnh gút người ta dựa vào 2 giai đoạn: cấp tính và mạn tính. Đồng thời dùng các loại thuốc có khả năng làm tăng đào thải acid uric trong máu. Song song với việc dùng thuốc rất cần kết hợp ăn kiêng và tăng lượng nước uống theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.
Làm thế nào để phòng bệnh gút hiệu quả?
Bệnh gút là bệnh do rối loạn chuyển hóa purin làm tăng lượng acid uric trong máu, đây là bệnh nguyên phát. Để đề phòng bệnh gút xuất hiện nên tuân thủ ăn uống kiêng những loại thực phẩm, nước uống (như đã nói ở phần trên) có khả năng làm tăng nhanh lượng acid uric máu. Hằng ngày nên uống tăng lượng nước kèm theo nên ăn thêm các loại quả, canh, rau...
Tin mới nhất:
Thuốc trị bệnh gút và những vấn đề cần lưu ý
10 năm trở lại đây, khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển, bệnh Goutte (gút) đã trở nên rất phổ biến, ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ 4 trong số 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm.
Các biến chứng do bệnh gút gây ra: liên quan đến tổn thương xương khớp (hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm trùng huyết), liên quan tổn thương thận (sỏi thận, thận ứ nước, ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim...), liên quan đến chẩn đoán nhầm (bệnh thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn, và được điều trị bằng rất nhiều các loại kháng sinh khác nhau, và có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một trong những chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp. Từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng lao, loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp) và liên quan đến tai biến do dùng thuốc (ngay cả khi chẩn đoán đúng việc điều trị gút cũng có thể gây nên tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng).
Những khó khăn trong điều trị bệnh gút
Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với nhiều thuốc chữa gút như colchicin và allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là do sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hóa, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức, và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.
Các nguyên tắc điều trị bệnh gút
Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và thuốc men. Các thuốc thường dùng điều trị bệnh gút là colchicin, allopurinol (zyloric), benémid, các thuốc chống viêm không stéroid...
Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra, bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hóa lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp...
Cách phòng tránh bệnh gút và các biến chứng của bệnh
Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Vì ăn uống bừa bãi là một yếu tố thúc đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân (nếu béo phì) và uống nhiều nước (khoảng 1,5-2 lít nước/ngày), đặc biệt là nước khoáng kiềm (để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu).
Thứ nhất, lượng thịt ăn hằng ngày không nên quá 15g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi...), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như thịt gia cầm, cá nạc.
Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng.
Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả.
Thứ tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh... vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn.
Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, kể cả rượu vang, rượu thuốc.
Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mọi mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như tránh lạnh, lao động quá mức, chấn thương, stress... Ngoài ra, bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin.
Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa nhân purin của tế bào, có thể nói nôm na là rối loạn chuyển hóa đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.
Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút
Tổn thương khớp, biểu hiện của bệnh gút (phim Xquang).
Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên ngay cả cán bộ y tế vẫn còn lúng túng khi chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu... nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dụng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.
Các hiểu biết giúp cho chẩn đoán bệnh chính xác
Chú ý đến đối tượng và lứa tuổi hay mắc bệnh: Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Tuyệt đại đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn uống (rượu, bia) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.
Các biểu hiện chính của bệnh gút giúp ích cho việc chẩn đoán: Để phát hiện sớm được bệnh gút, cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh gồm các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận. Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái... Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicin thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như khớp cổ chân, bàn ngón chân... Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn thấy chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận.
Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.
Chẩn đoán nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh: Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hóa khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.
Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.
Bệnh Gout ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại. Đâu là những nguyên nhân gây nên căn bệnh
Mặc dù nguyên nhân của rối loạn purine, gây bệnh Gout, hiện chưa rõ, nhiều khả năng là do những
Tăng acid uric máuNếu chỉ có tăng acid uric máu đơn thuần, không phải là bệnh Gout, đây chỉ là một
Một nguyên nhân khiến cho hàng triệu người trên thế giới bị đau nhức ở các khớp xương hay còn
Chắc hơn đinh đóng cột là số người ở nước ta đang bị tăng acid uric trong máu rất cao. Cứ xem
Qua thực tế khám và điều trị cho bệnh nhân gout tại viện gút chúng tôi thấy có rất nhiều
Gút là một bệnh khớp vi tinh thể, nguyên nhân do acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch
Rượu tỏi chữa trị được 04 nhóm bệnh:1) Thấp khớp (sưng khớp, vôi hoá các khớp, mỏi xương
(Dân trí) - Nhiều người thường bị đau lưng khi ngủ dậy mà không rõ nguyên nhân. Dân gian thường cho
Bạn sẽ không phải lo lắng về chứng viêm khớp dạng thấp nếu biết cách “chung sống hòa bình”
Lá lốt có tên khoa học là Piper lolot C. DC, họ Hồ tiêu PIPERACEAE; là loại cây thảo sống dai, cao 30 –
Câu chuyện sức khỏe tuần này là dâu tây có thể giúp người bệnh chống lại bệnh ung thư và là
Ngoài việc gây bệnh gout (gút), tình trạng tăng axit uric máu có thể gây tổn thương cho nhiều cơ quan
